RSS Reset

Sự thật bất ngờ về cổ phần hóa nhà nước

Khái niệm doanh nghiệp Luật Hùng Phát nhà nước

Theo luật doanh nghiệp Luật Hùng Phát nhà nước do Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 20/04/1995 thì doanh nghiệp Luật Hùng Phát nhà nước được định nghĩa như sau: Doanh nghiệp Luật Hùng Phát nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao.

Như vậy doanh nghiệp Luật Hùng Phát nhà nước là tổ chức kinh tế được nhà nước thành lập để thực hiện những mục tiêu do nhà nước giao. Và vì doanh nghiệp Luật Hùng Phát nhà nước do nhà nước đầu tư vốn nên tài sản trong doanh nghiệp Luật Hùng Phát là thuộc sở hữu nhà nước, còn doanh nghiệp Luật Hùng Phát chỉ quản lý, sử dụng tài sản theo quy định của chủ sở hữu là nhà nước.

2. Khái niệm công ty cổ phần

 Công ty cổ phần là doanh nghiệp Luật Hùng Phát trong đó các thành viên cùng nhau góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn của mình góp vào công ty. (Theo luật công ty ngày 21 – 12 – 1990)

3. Khái niệm về cổ phần hoá doanh nghiệp Luật Hùng Phát nhà nước sang công ty cổ phần

Có thể khái quát về cổ phần hoá doanh nghiệp Luật Hùng Phát nhà nước là một biện pháp chuyển đổi hình thức sở hữu trong doanh nghiệp Luật Hùng Phát từ sở hữu nhà nước sang sở hữu của các cổ đông (trong đó nhà nước có thể tham gia với tư cách cổ đông hoặc không tham gia). Đi đôi với việc chuyển đổi sở hữu là việc chuyển đổi doanh nghiệp Luật Hùng Phát nhà nước sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần, được điều chỉnh theo các quy định trong Luật doanh nghiệp Luật Hùng Phát. Về hình thức, đó là việc nhà nước bán một phần hay toàn bộ giá trị cổ phần (vốn của mình trong doanh nghiệp Luật Hùng Phát cho các cá nhân tổ chức trong và ngoài doanh nghiệp Luật Hùng Phát, hoặc trực tiếp tự doanh nghiệp Luật Hùng Phát theo cách bán giá thông thường hay bằng phương thức đấu giá hoặc qua thị trường chứng khoán.

xem thêm về dịch vụ kế toán trọn gói: http://luathungphat.vn/dich-vu-ke-toan-thue-tron-goi/

           Về bản chất, đó là phương thức thực hiện xã hội hoá đồng vốn thuộc sở hữu nhà nước, chuyển từ doanh nghiệp Luật Hùng Phát 1 chủ sở hữu sang đa sở hữu, tạo nên mô hình doanh nghiệp Luật Hùng Phát hoạt động phù hợp kinh tế thị trường.

4. Vì sao cổ phần hoá doanh nghiệp Luật Hùng Phát nhà nước

          Cổ phần hoá hình thức sở hữu tại doanh nghiệp Luật Hùng Phát đã chuyển từ sở hữu nhà nước sang sở hữu hỗn hợp từ đây dẫn tới những thay đổi quan trọng về hình thức tổ chức, quản lý cũng như phương hướng hoạt động của công ty.công ty có xu hướng làm thủ tục thay đổi giấy phép kinh doanh 

          Trong điều kiện cơ chế quản lý thay đổi, khi hiệu quả sản xuất kinh doanh trở thành yếu tố sống còn doanh nghiệp Luật Hùng Phát thì các doanh nghiệp Luật Hùng Phát thuộc khu vực kinh tế nhà nươc đã bộc lộ những yếu kém, lâm vào tình trạng sa sút khủng hoảng .Vì vậy chuyển sang hình thức mới là công ty cổ phần.

dich-vu-ke-toan-tron-gói

Trong công ty cổ phần quyền lợi của những người chủ gắn chặt với những thành bại hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty vì thế họ rất đoàn kết gắn bó thống nhất trong công việc tìm kiếm đứa ra phương hướng hoạt động phù hợp nhất hoạt động của doanh nghiệp Luật Hùng Phát nhằm củng cố tăng cường sức cạnh tranh của sản phẩm do họ sản xuất ra quan tâm đến công việc sản xuất của công ty và lao động tích cực với tinh thần trách nhiệm cao, khắc phục việc buông lỏng quản lý tài sản của doanh nghiệp Luật Hùng Phát, xoá tình trạng vô chủ của doanh nghiệp Luật Hùng Phát. Mặc dù chủ trương trao quyền tự quản cho các doanh nghiệp Luật Hùng Phát nhà nước là giải pháp đạt kết quả nhất định nhưng chỉ mới đẩy lùi được chế độ bao cấp nhà nước đối doanh nghiệp Luật Hùng Phát nhà nước, còn về phần thức thì tài sản doanh nghiệp Luật Hùng Phát nhà nước vẫn là tài sản chung cho nên tình trạng vô trách nhiệm ,láng phí của công vẫn chưa được khắc phục . khi doanh nghiệp Luật Hùng Phát nhà nước trở thành công ty cổ phần thì điều này mằc nhiên sẽ không còn tồn tại .

Doanh ngiệp nhà nước là một bộ phận quan trọng ,cấu thành khu vưc kinh tế nhà nước ,vì thế vai trò chủ đạo thành phần kinh tế này phụ thuộc nhiều hiệu quả kinh tế xã hội mà doanh nghiệp Luật Hùng Phát nhà nước mang lại nước ta cũng giống như những nước xã hội chủ nghĩa trước đây ,thực hiện mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung ,lấy việc mở rộng và phát triển cac doanh nghiệp Luật Hùng Phát nhà nước làm muc tiêu cho công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội nên đã chiếm tỷ trọng tuyệt đối trong nền kinh tế và dựa trên cơ sở nguồn vốn cấp phát ngân sách nhà nước , tất cả các hoạt động đều chịu sự kiểm sóat và chi phối trưc tiếp của nhà nước song cũng giống như nhiều nước trên thế giới ,các doanh nghiệp Luật Hùng Phát nhà nước hoạt động hết sưc kém hiệu quả ,ngày càng bộc lộ những điểm yếu ,đặc biệt là cấp địa phương quản lý.

Tỷ trọng tiêu hao vật chất :tỷ trọng tiêu hao vật chất trong tổng sản phẩm xã hội của khu vực nền kinh tế nhà nước cao gấp 1,5 lần và chi phí để sáng tạo ra một đồng thu nhập quốc dân cao gấp hai lần so nền kinh tế tư nhân .

Mức tiêu hao vật chất của các doanh nghiệp Luật Hùng Phát nhà nước trong sản xuất cho một đơn vị tổng sản phẩm xã hội ở nước ta thường cao gấp 1,3 lần so mức trung bình trên thế giới .

VD: chi phí vật chất của sản phẩm hoá chất bằng 1.88 lần , sản phẩm cơ khí bằng 1,3-1,8 lần , phân đạm bằng 2,35 lần. Mức tiêu hao nang lượng của các doanh nghiệp Luật Hùng Phát nhà nước ở nước ta cũng cao hơn mức trung bình của các nước trên thế giới

VD: sản xuất giầy gấp 1,26 lần, hoá chất cơ bản bằng 1,44 lần than bằng 1,75 lần

          Chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp Luật Hùng Phát nhà nước thấp và không ổn định :

Trung bình trong khu vực kinh tế nhà nước chỉ có khoảng 15% đạt tiêu chuẩn xuất khẩu ; 65%số sản phẩm đạt chất lượng dưới trung bình để tiêu dùng nội địa; 20%số sản phẩm kém chất lượng . Do đó hiện tượng hàng hoá ứ đọng với khối lượng lớn và chiếm hơn 10% số vốn lưu động của toàn xã hội.

          Hệ số sinh lời của khu vực kinh tế nhà nước rất thấp.

VD: Hệ số sinh lời của vốn lưu động mang tính chất chung chỉ đạt 7% một năm trong đó nghành giao thông vận tải đạt 2% một năm…Hệ số sinh lời của vốn lưu động đạt 11% một năm, trong đó các nghành tương ứng ở trên đạt 9,4%; 10,6% và 9,5%.

Hiệu quả khai thác vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước rất thấp.

thay-doi-giay-phep-kinh-doanh

Cụ thể là mấy năm gần đây hàng năm nhà nước dành hơn 70% vốn đầu tư ngân sách của toàn xã hội cho các doanh nghiệp Luật Hùng Phát nhà nước, tuy nhiên chúng chỉ tạo ra được từ 34 đến 35% tổng sản phẩm xã hội. Hơn nữa khu vực kinh tế nhà nước lại sử dụng hầu hết các lao động có trình độ ĐH, công nhân kỹ thuật, phần lớn số vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại quốc doanh.

          Số các doanh nghiệp Luật Hùng Phát thua lỗ chiếm một tỷ trọng lớn:

Theo số liệu của tổng cục thống kê năm 1990, trong số 12084 cơ sở quốc doanh thì có tới 4504 đơn vị sản xuất kinh doanh thua lỗ, chiếm hơn 4584 đơn vị sản xuất kinh doanh thua lỗ ,chiếm hơn 30% tổng số doanh ngiệp nhà nước. Trong đó, quốc doanh trung ương có 501 cơ sở thua lỗ, bằng 29,6%  số đơn vị do trung ương quản lý, quốc doanh địa phương có 4083 cơ sở thua lỗ chiếm 39,9% số đơn vị do địa phương qủan lý. Các đơn vị trên đây có giá trị tài sản bằng 32.9% số đơn vị do đia phương quản lý. Các đơn vị trên đây có giá trị tài sản cố định bằng 38% tổng giá trị tài sản của toàn bộ khu vực kinh tế nhà nước và với 787300 lao động trong tổng số 2590000 lao động, bằng 32,9% lao động của toàn bộ khu vực kinh tế nhà nước . các số liệu đó cho thấy việc làm ăn thua lỗ của các doanh ngiệp nhà nước đã gây tổn thất rất lớn cho ngân sách nhà nước và là một trong những đưa đến việc bội chi ngân sách nhà nước trong nhiều năm qua . thêm vào đó nhà nước lại có hàng loạt chính sách bù giá , bù lương bù chênh lệch ngoại thương và hàng loạt các khoản bao cấp khác cho các khoản vay nợ nhà nước ngày càng nặng nề và trầm trọng chỉ tính trong giai đoạn 1985-1990 tỷ lệ thâm hụt ngân sách thường xuyên ở trên mức 30%.

          Từ năm 1989 đến nay ,nền kinh tế đã thực sự bước sang hoạt động theo cơ chế thị trường:

Các chính sách về kinh tế , tài chính đối doanh ngiệp nhà nước đã được thay đổi theo hướng tự gio hoá giá cả. Chi phí ngân sách nhà nước bù lỗ, bù giá bổ sung vốn lưu động cho khu vực này giảm đáng kể. Tuy nhiên tư tưởng bao cấp trong đầu tư vấn còn rất nạng nề . tất cả các doanh nghiệp Luật Hùng Phát được thành lập đều được cấp ngân sách từ nhà nước. hàng năm trên 85%vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi được dành cho cac doanh ngiệp nhà nước vay. Tài sản tiền vốn của nhà nước giao cho doanh ngiệp chủ yếu là không được bảo tồn và phát triển. Theo báo cáo của tổng cục thống kê, hầu hết cac doanh nghiệp Luật Hùng Phát nhà nước mới chỉ bảo tồn được vốn lưu động, còn vốn cố định thì mới chỉ bảo tồn ở mức 50% so chỉ số lạm phát hai nghành chiếm giữ vốn lớn nhất là công nghiệp và thương nghiệp (72.52%) lại là hai nghành có tỷ lệ thất thoát lớn nhất (16.41%và 14,95% ) . vấn đề nợ nần vòng vo mất khả năng thanh toán còn xảy ra khá ngiêm trọng do vấn đề quản lý tài chính đối với doanh nghiệp Luật Hùng Phát chậm đổi mới , đồng thời nạn tham nhũng lãng phí diễn ra khá nghiêm trọng ,từ những hoạt động yếu kém của doanh ngiệp nhà nước

chúng ta thấy rằng vì sao lại cổ phần hoá doanh nghiệp Luật Hùng Phát nhà nước, dó là tính tất yếu của quá trình phát triển các doanh nghiệp Luật Hùng Phát nhằm khắc phục nhứng yếu kém do doanh nghiệp Luật Hùng Phát nhà nước mắc phải.

Nguồn: Luật Hùng Phát

 

No comments yet.

Leave a Comment